Thứ Hai, 26 tháng 6, 2017

Đưa ý kiến cá nhân khi làm việc chung

Gần đây có dịp cộng tác với đồng nghiệp trong một dự án, mình học được nhiều kinh nghiệm. Trong đó thay đổi đáng nói nhất là mình đã biết cách đưa ý kiến thẳng thắn hơn.

1. Vì sao cần đưa ý kiến?

- Cái họ cần là quan điểm cá nhân - họ không cần sự hòa bình.

Khi một người cộng tác với mình, họ muốn nghe quan điểm cá nhân của mình, muốn xem góc nhìn của mình. Vì thế việc đưa ra các ý kiến, góp ý, sửa đổi là vô cùng cần thiết.

Vậy mà, ban đầu, mình đã không nhận ra điều này. Mình cho rằng làm việc cần nhất là sự hòa hợp, tôn trọng, dĩ hòa vi quý, giữ không khí yên bình. Vì thế, mình không ngừng đặt mình vào vị trí của họ và gật gù nhiều hơn là góp ý. Mình cho rằng dù sao người chịu trách nhiệm chính dự án cũng là họ, hoặc chưa chắc họ đã muốn nghe nhận xét, ai cũng thích nghe lời khen, hoặc mình không có quá nhiều tư cách/thâm niên/kinh nghiệm để đưa ra nhận xét đáng tin cậy, v.v.. Vô vàn lý do khiến mình cứ im lặng giữ các quan điểm của bản thân và tôn trọng ý tưởng của họ. Sau đó, khi thử nói thẳng bất chấp kết quả, mình nhận ra nhiều lợi ích mà mình sẽ kể tiếp sau.

- Thông thường ý tưởng của mình tốt hơn là mình nghĩ.

Mình quá quen thuộc với bản thân mình nên đôi khi sẽ đánh giá hơi thấp các ý kiến của mình. Thay vì ngần ngại suy đi tính lại chi bằng nói ra với đồng nghiệp, họ có thể tán thành hoặc ít nhất thì hai bên cũng có thể tranh luận để làm cho mọi thứ hay hơn, sắc sảo hơn.

- Không có ý tưởng nằm ngoài ngôn ngữ.

Khi một người giấu các quan điểm, ý tưởng trong ý nghĩ, ngại nói ra, mình tin đó là một ý tưởng tù mù, không rõ ràng, thậm chí người ta còn dễ chìm vào ảo tưởng rằng nó hay tới độ ... không diễn tả nổi.

Mình thuộc trường phái tin vào ngôn từ. Không có tư duy nằm ngoài ngôn từ. Nói ra khiến một ý tưởng được rõ ràng, có hình hài rõ hơn, lại còn được đụng độ, được phản biện, được bổ sung để càng thêm sắc sảo. Nói ra không có nghĩa là làm mất đi cái tôi, mất đi bản sắc của ý tưởng, nếu thật sự ý tưởng đó có chứa sự đặc sắc riêng, chẳng có gì làm mất được bản sắc của nó. Trong trường hợp làm việc chung mà không nói ra ý kiến thì chỉ cho thấy bạn thiếu tự tin vào độ chắc chắn, sắc sảo trong ý kiến đó mà thôi.

- Không nói ra, mọi việc sẽ chẳng bao giờ dừng ở đó

Một điều không nói ra không vì thế mà không hề tồn tại, nó ở đó, tuy không rõ ràng, nhưng làm nên khoảng cách giữa những người làm việc chung, và sự xa cách sẽ ngày càng lớn dần, có thể chính nó là nguyên do mâu thuẫn sau này.

Không nói rõ quan điểm của mình, sản phẩm sinh ra sẽ là một thứ rất dở dang, mình sẽ không bao giờ có được cảm giác hài lòng trọn vẹn với công việc. Đó không phải là cộng tác, là làm việc nhóm, là đóng góp, đó là người nào làm phần việc của người đó, làm miễn cưỡng cho xong, dù có làm tròn trách nhiệm của mình và làm tốt đến đâu thì đó cũng không bao giờ là cộng tác.

2. Một số khó khăn trong việc đưa ý kiến khi làm việc chung và hướng giải quyết:

- Nhiều người - như mình chỉ cảm thấy sáng suốt khi suy nghĩ một mình, chưa có thói quen suy nghĩ giữa nơi đông người nên dễ bị phân tâm và suy nghĩ khá chậm, lúng túng. Làm việc chung đòi hỏi tư duy nhanh, phát ngôn nhanh, vì người khác hiếm khi ngồi yên lặng chờ đợi mình.

Hiện tại mình thấy chỉ có cách là tập tư duy nhanh và thật tập trung. Để tư duy nhanh thì cần tự tin, xác định trọng tâm vấn đề, nhìn thẳng vào vấn đề để soi rõ các điểm chưa ổn thỏa, tránh để ý tới các chuyện hoa lá cành xung quanh.

Thường mình phát hiện ra một điểm nào đó không tới nỗi chậm, chỉ cần quan sát kĩ và dành một chút thời gian lắng nghe cảm nhận của bản thân. Khi có các vấn đề về tính logic, tính khả thi, v.v.. , đối với mình, trực cảm sẽ báo cho mình biết rất sớm trước khi lý trí mình thật sự phân tích ra.

Ngoài ra, cứ mạnh dạn đề nghị đối phương dành thời gian và sự yên tĩnh cho mình suy nghĩ. Thảo luận không nhất thiết cứ phải là nói không ngừng.

- Nhiều khi chỉ cảm thấy không ổn chứ không thật sự rõ vì sao và phải nói thế nào

Mình nghĩ, trong các trường hợp đó cứ mạnh dạn đề nghị thêm thời gian và nói rõ ra cảm giác không ổn của mình.

- Ngại va chạm, ngại mất lòng

Trừ khi đối phương thật sự không muốn hợp tác. Khi họ đã chủ động yêu cầu được cộng tác với mình, chắc chắn họ sẽ trân trọng các quan điểm của mình.

Thẳng thắn không có nghĩa là không tôn trọng. Còn ai buồn vì sự thẳng thắn thì hãy cứ vẫn thẳng thắn để họ quen dần.

3. Tóm lại:

Con người không nên sống như con sâu ẩn mình sau đám lá. Đã tham dự vào cuộc sống này với người khác, hãy thật sự tham dự, thật sự có mặt, đừng ẩn dật, đừng sợ hãi, đừng coi thường.

Vấn đề không phải là ai giỏi, ai kém, chúng ta đánh giá như thế nào về nhau, mà là công việc sẽ có thể tốt hơn lên như thế nào. Đừng ngại mình dốt mà không dám nói, đừng chê người tồi mà không thèm nói. Đó là một thứ văn hóa thật sự rất kì quặc và chỉ nên phổ biến ở Hà Nội như hiện nay thôi là đủ rồi, không cần phải xuất hiện thêm ở bất cứ đâu khác trên thế giới này. :P


Thứ Tư, 21 tháng 6, 2017

Mình hiểu rồi




Hôm nay, tìm bạn không thấy. Mình thấy buồn.

Thế mà mình cứ tưởng mình sẽ không buồn cơ đấy.

Mình nghĩ mình cứ mặc sức đối xử õng ẹo với thế giới đi, để khi mình tha thứ, thế giới sẽ sung sướng được chạm vào mình. Nhưng đôi khi ngược lại. Mình vừa "ân xá" một người, người đó đã lập tức tìm cơ hội "giam giữ" mình trong nhà tù chung thân của họ.

Thế là chúng ta thật sự từ chối nhau, không có cơ hội để chạm vào nhau.

Mình cứ ngồi đó, nghĩ mãi. Lần này, cảm xúc của mình không xáo trộn như cách đây một năm, khi còn trẻ (hơn bây giờ). Mình nhìn thẳng vào câu chuyện này. Ồ, buồn hơn là mình tưởng. Mình nghĩ gì?

Vì sao mình buồn? Cảm giác không mấy dễ chịu? Không biết người ta nghĩ gì? Người ta căm ghét mình lắm nhỉ? Ừ, đành vậy. Hay người ta giận mình rồi? Chúng mình vẫn giận nhau dữ dội lắm, nhỉ? Hay người ta đã thoáng nhìn vào trang fb của mình, sự tự do, thoải mái, thảo mai, giả dối nào đó làm người ta bực. Ừ. Giá mà mình được biết nhỉ? Giá mà chúng ta biết chính xác người kia nghĩ gì, chắc sẽ ổn hơn cho cả hai.

Giờ chẳng phải là lúc tìm kiếm đủ thứ lý lẽ để tiêu diệt bằng được cảm giác buồn, hồ nghi. Hễ cứ có mong muốn khẳng định cái gì, thì lại sai ngay một lỗi nào đó kế tiếp. Cho nên chỉ có thể nhìn vào mọi sự và dừng ở các giả thiết phong phú về người kia. Không suy diễn, bịa đặt.

Bạn mệt rồi đúng không? Ừ. Có thể tất cả chỉ là do bạn mệt quá thôi. Sống ai cũng mệt. Bạn có quyền mệt. Ừ, mình hiểu rồi. Bạn được loại bỏ nguyên nhân mệt mỏi của bạn chứ. Tưởng tượng bạn sẽ ngồi xuống đó, hít thở nhẹ nhàng hơn, vì block được một người thì không khí trong lành hơn. Tưởng tượng bạn nhìn ra ngoài khoảnh sân xanh xanh, những cảnh trí vài năm nay về cơ bản vẫn thế. Cảm thấy yên ổn, được xoa dịu đôi chút bởi sự phồn hoa sạch sẽ này. Tưởng tượng bạn sẽ nằm xuống, quệt ngón tay ngang qua hoặc lên xuống màn hình điện thoại một chút, rồi nhắm mắt lại và ngủ.

Ừ, mình hiểu những mệt mỏi đó. Mình hiểu nỗi tổn thương đó. Mình hiểu bạn không có thời gian để nguôi được dù một cơn giận nhỏ hay thậm chí to. Mình hiểu mình phải là người hiểu hơn, vì mình có thời gian. Mình hiểu rằng khi từ chối một điều gì thì tâm trí cũng đâu có tự do, cũng phải để tâm một chút để canh giữ cho những "nhà ngục" riêng của mình. Nỗi giận hờn, sự tổn thương đã xây nên những căn ngục không chỉ quanh mình, mà quanh bạn. Nhưng mình chẳng trách gì, chẳng trách người nào đã ích kỉ gây nên khó khăn cho cuộc sống của người khác, vị tha chưa bao giờ là một nghĩa vụ, sống - theo quan niệm của thế giới ngoài đó - là hoàn tất các nghĩa vụ, vượt ra nghĩa vụ là vô duyên. Mình không trách người đã ích kỉ chẳng cảm thông, cảm thông không là nghĩa vụ. Mình chẳng trách người đã ích kỉ chẳng hy sinh, chẳng thấu hiểu, chẳng đặt mình vào người khác, chẳng niệm tình, chẳng cởi mở. Không cái nào trong đó là nghĩa vụ.

Mình hiểu rồi. Mình cũng có được nhiều bài học hơn. Mình phải cám ơn sự tự do đã mở rộng con mắt cho mình. Nhưng mình không vị tha, mình chỉ mở mắt ra nhìn cho rộng để hiểu người, từ đó mà xử lý các cảm xúc của mình, để khước từ bóng tối, khước từ căng cứng, gò bó, để sống cuộc sống thật sự của mình mà không sống một cuộc sống như một phản đề của người khác, không sống mà bận rộn canh giữ các nhà ngục của lòng ghét, định kiến, sống cuộc sống của chính chúng ta, không sợ hãi, sống ngẩng đầu.

Thế rồi mình chợt nghĩ lần tới, nếu lại có cơ hội chạm vào nhau, khi trái tim bên kia vừa chơm chớm "ân xá" cho mình, thì mình sẽ không giam lại người kia vào ngục vì những thù hằn cũ. Chúng ta đều xứng đáng sống cuộc sống của chính mình, không cần quá coi trọng sự hiện diện, hay không hiện diện của người khác, vì những con đường của mỗi người là thênh thang, bầu không khí đã đủ trong lành để hít thở.

Thứ Hai, 12 tháng 6, 2017

Tại sao?

- Tại sao vậy? Tại sao các giá trị trung bình cứ tồn tại vậy? Tại sao họ cứ làm như họ là chân giá trị? Là vĩnh cửu. Tại sao họ cứ nhơn nhơn?

Hôm nay em gặp lại một người quen cũ. Xong rồi em như bị kéo trở lại vào cái bầu khí quyển đó. Em muốn đứng lên nói một cái gì đó, nói là họ sai rồi, em chắc chắn là họ sai. Nhưng em không có cách gì nói được. Em cảm giác những thứ trung bình và giả dối của họ mang dáng vẻ rất giống trường tồn, mà mình không thể dễ dàng bật lại được. Em chỉ biết là nó sai. Nó phi nhân. Nó giả dối. Nhưng em không thể làm gì được. Thế rồi em cứ đau khổ từ chiều tới giờ, cảm thấy rất cô độc.

- Cả môi trường sống chúng ta như vậy.

- Em cảm thấy rất đau khổ.

- Có một việc chúng ta có thể làm là hãy làm cho mình mạnh hơn, sáng suốt hơn, và hiểu biết hơn. Em sẽ bận bịu trong những cái khó của chính mình, lúc đó sẽ không nhìn ra ngoài kia đời sống nữa.

- Em thấy đau khổ. Tại sao họ được sống nhơn nhơn, còn em không được, chỉ vì em không cho phép mình sống như vậy

- Không những họ sống nhơn nhơn mà họ còn chọc ghẹo em không được như họ nữa. Sẽ có những con người còn tự đắc thắng theo cách đó.

Giờ em sợ điều gì nhất thì hãy làm điều đó cho thật tốt nhé

- Em đã luôn cố để nói một điều gì đó. Nhưng không ai nghe.

- Em hãy để những người yếu kém giống nhau sống với nhau trong những giá trị giả dối mà họ tạo ra. Những người giống nhau đó sẽ tự triệt tiêu lẫn nhau.

- Nhưng họ phác họa em giống như một kẻ xấu tính đứng bên kia chiến tuyến. Em không phải như vậy. Em luôn cố nói một điều gì với họ.

- Khi em thấy việc nâng cao năng lực của mình mới chính là cái quan trọng nhất, thì em sẽ thoát ra được khỏi môi trường em vừa nói, cũng thoát ra khỏi những cảm giác từ môi trường đó. Em sẽ bước những bước nặng nhọc rất khó khăn để cải thiện năng lực của mình. Có đôi lúc cũng thấy cô đơn, nhưng hãy tin vào chính mình.

Em biến những giá trị mà em có thành thứ cầm nắm được đi.

- Không một ai hiểu em và đứng về phía em cả. Họ dự cảm được rắc rối từ phía em. Không có một ai bảo vệ em hết. Không ai nhìn ra em. Họ đã khiến niềm tin của em yếu đi vì sự cô độc. 

- Dự cảm được rắc rối từ phía em - đây mới là khó khăn lớn nhất của em trong giai đoạn này. Những người giống em cũng khó khăn như vậy. Tại sao những cái tích cực, khái niệm "tốt" như cách hiểu thông thường lại ít khi nhìn thấy? Vì nó là cái người ta thường nói chứ không phải cái mà người ta làm. Những người không sống thật với những bài giảng của họ, họ cũng ít khi nhận ra rằng họ sống với cái mà họ khinh bỉ. Chúng ta đang sống trong một môi trường mà không chỉ cái tốt không có cơ hội nảy mầm, mà tệ hại hơn là một môi trường chống lại cả những điều tốt đẹp, chống lại những nỗ lực tích cực.

Cảm xúc em lúc này mạnh quá, anh không đủ từ ngữ để làm em dịu đi. Hay là em cứ thưởng thức cảm giác lúc này đi, cho trọn vẹn.

***

- Con người em chỉ là không chịu được sự bất công. Tại sao mọi người đồng loạt nghĩ là em ghen tỵ? Em ra đi vì em không quen được bất công. Nhưng mọi người ở lại đều nghĩ là em vì ghen tỵ mà đi.
Em cảm thấy rất bất nhẫn. Rất hèn mạt và ngu dốt.

Trong những ngày đó, không một ai thật sự hiểu em để bảo vệ em, dù chỉ là bảo vệ bằng tình cảm, bằng sự thấu hiểu, động viên như hai chị. Mọi người vây quanh như vây quanh một câu chuyện hiếu kì, ai cũng im lặng và nghĩ theo cách mọi người muốn nghĩ, không ai hiểu em hết.

Mọi người cũng cảm thấy điều mà em cảm thấy, đó là sự bất công. Tại sao không ai nói? Mình em nói? Mình em hứng chịu?

- Vì tất cả mọi người bây giờ đều như thế. Nên cái sai, cái bất công trở thành hiển nhiên, em nói ra có nghĩa là em đi ngược điều đó, thành ra em lạc lõng và trở thành kẻ ganh tỵ, không biết cố gắng.

Cuộc sống bây giờ như thế, rất khó thay đổi, em chỉ làm mọi người nghĩ khác đi khi em giàu.

- Bản thân mọi người hiểu rằng em không phải như thế. Nhưng mọi người sợ phải thừa nhận. Mọi người sợ như em. Không ai muốn lên tiếng nói điều giống em. Nói điều mà họ nghĩ.

- Không ai đủ gan nói em ạ.

- Tại sao lại thế? Tại sao cái sai lại được tung hô? Cái trơ trẽn lại sống tốt? Tại sao im lặng có thể biến sai thành đúng?

- Mọi người biết em đúng, nhưng nếu bênh em, mọi người sẽ mất việc, mất nồi cơm, nên ai cũng sợ. Lâu dần thành quen, rồi chấp nhận.

- Một lũ hèn và đạo đức giả. Họ đã chẳng bao giờ xứng đáng có được em, như một người bạn.

- Em cũng thấy đấy. Họ có tài hay không chị không biết, nhưng họ ác. Chị biết điều đó. Nhưng cả chị cũng không dám nói gì, vì cuộc sống cả. Chị chỉ không kết thân với họ, không hùa theo. Bởi thế, chị luôn muốn làm người tự do, không phụ thuộc ai, tự làm tự sống và tự mình quyết mọi thứ.

- Lúc đó em rất yếu đuối. Em chỉ cảm thấy bằng trực giác là mình phải làm điều đó, phải nói ra. Nhưng làm như nào thì em không biết. Giải quyết như nào em không biết. Em chỉ biết nói ra thôi. Em không đủ tỉnh táo và chín chắn ở thời điểm đó để xử lý mọi thứ. Nhưng cũng không ai giúp em hết. Em chỉ có một mình. Nếu không có hai chị chăm sóc em về tinh thần, hồi đó em sẽ gục ngã thật sự.

Cô Ngọc có ý tốt nhưng cô không giúp được em, vì cô không hiểu em. Chưa kể 2 năm ở trường khó khăn của em tăng lên gấp đôi vì tên em bị gắn với tên cô Ngọc. Em làm gì mọi người cũng nghĩ là làm theo cô Ngọc, nghe lời cô Ngọc, trong khi em là người rất độc lập.

Cô Ngọc thì không hiểu. Mọi người xung quanh thì bàn tán. Lãnh đạo thì hèn. Bạn bè mình giúp đỡ thì trở mặt.

Em thấy buồn. Lần đầu tiên em cảm thấy đau khổ như vậy.

- Trường mình là vậy. A dua để tổn tại. Phải biết mình và ngậm mồm lại.

- Họ nghĩ rằng em ngu dại vì em lên tiếng thì em thiệt, nhưng ngay từ đầu em đã không nói CHO EM, em nói cho những người khác. Vì em chưa bao giờ muốn đi nước ngoài. Đó là chỗ họ sẽ chẳng bao giờ hiểu được em.

Đó là tất cả sự thật mà một năm qua em đã luôn cố gắng để nhìn cho thấu tỏ. Em sẽ chẳng bao giờ trú nấp vào các triết lý sống vị tha để từ chối nhìn vào sự thật.

Những giá trị trung bình tạm thời thắng thế, chẳng bao giờ là thứ mà em coi trọng.

Thứ Hai, 5 tháng 6, 2017

Từ thiện

2 năm chủ nhiệm lớp, tôi chỉ đồng ý cho phụ huynh đưa học sinh đi từ thiện đúng một lần. Và là phụ huynh đưa đi, không phải tôi đưa. Điều đó có nghĩa là tôi bị nhà trường trừ điểm 2 lần trong 2 năm học.

Trong lần duy nhất đi từ thiện, xui xẻo thay, tôi chứng kiến và hiểu ra toàn bộ quy trình người đó dùng tiền quỹ của lớp tôi kết hợp giữa từ thiện và quảng cáo cho công ty của mình. Bỉ ổi.

Tôi không thích từ thiện. Bất cứ dạng nào: tiền của, tình thương, cơ hội. Không có nghĩa là tôi ghét người thích từ thiện. Tôi chỉ đơn giản là không thích. Vậy thôi.

Trong lần duy nhất đi từ thiện với lớp, tôi quan sát được cách con người ở đó tồn tại như một con người bình thường. Mình có trí óc bình thường, có đầy đủ điều kiện, sao không vô ưu được như vậy. Sau chuyến đi, tôi bật cười, ai mới là người cần được từ thiện. Họ và tôi, ai mới đáng thương hơn? Hay là ai cũng như ai.

Và tôi từ chối "bước vào thế giới của nhau".

Đi làm từ thiện khiến tôi có cảm giác mình tiền giả định rằng mình ở trên họ ở một phương diện nào đó. Chí ít là về điều kiện vật chất. Nhưng cuộc đời tôi không bao giờ cân nhắc tới phương diện đó, đó không phải là cán cân mình đánh giá mọi thứ xung quanh, vậy đi từ thiện với tôi có ý nghĩa gì?

Và một loạt câu hỏi khác: sống bản thân mình cho tốt, để ý tới common sense chút xíu đừng làm ai bực dọc, không xả rác ngoài đường, ngưng vô duyên, luôn đúng giờ, nghe người ta nói cho xong một lời, ráng hiểu cho đúng ý của họ, đừng cố tình suy diễn bịa đặt, đừng tự nhận là hiểu khi chưa hiểu, đừng nói năng đa nghĩa mỉa mai ... tất cả những điều đó cũng là từ thiện cho nhau đó, sao nhiều khi tôi cũng lười biếng làm?

Đào sâu bản thân sao cho mình có thể sống ngay thẳng, không mâu thuẫn, không phản thân, sống vui vẻ, tự do, thống nhất, cũng là làm đẹp cho đời đó, sao nhiều khi tôi không gắng làm?

Cũng rất dễ để nhận ra những người làm từ thiện không thật tâm trong xã hội ngày nay. Đặc điểm nhận dạng: họ hay nói về công ơn của mình, thậm chí nhắc khéo người khác phải nhớ ơn/trả ơn họ. Vậy không phải là cho, mà là cho - vay - nợ.

Cuối cùng, với riêng tôi, nếu ai nói rằng họ thương hại, giúp đỡ, lo âu đêm ngày cho tôi, mang lại tiền của và danh hiệu này kia cho tôi, thì đó đích thực là một sự xúc phạm. Với tất cả những nỗ lực bao năm qua của tôi để tự trụ vững bằng đôi chân của chính mình, tự gây dựng những thứ mình đang có, không vay mượn, nhận vơ dù chỉ một ý tưởng nhỏ xíu, tôi không đồng ý cho ai đó cưu mang - hiểu theo bất kỳ nghĩa nào của từ này. Nếu giữa chúng ta có một tương tác đem lại lợi ích cho cả hai bên, đừng nhầm lẫn rằng tôi bán rẻ danh dự để bị buộc phải hàm ơn bạn. Tôi yêu quý những người hiểu được điều đó ở tôi và chính cư xử tinh tế của họ mới là điều luôn khiến tôi biết ơn.

Đọc lại cuốn Walden trong một tối mưa lộp độp trên mái nhà, thật quá nhiều tâm tư.

Thứ Tư, 31 tháng 5, 2017


Teacher Technology adopTion and The philosophy of fear
Jason Ribeiro
Recently, a new tension has begun to underlie classroom practice and instruction – teacher fears around use of technology. There is a growing movement to identify why technology is rarely used in meaningful ways in the classroom and why many teachers have an aversion to integrating it in their lessons.1 This movement assumes that teachers are delaying schools’ adoption of educational technology and that this resistance is not part of a larger issue: a systemic philosophy of fear.

Philosopher Lars Svendsen defines the philosophy of fear as a low-intensity fear that “surrounds us and forms a backdrop of our experiences and interpretations of the world.”2 While this current generation of students has no recollection of a world without the Internet, it is important to note that the hands that shape their future vividly recall a digital takeover of  modern life.3 The fear that I speak of  is  not monumental, but rather a constant force that causes us to protect and isolate ourselves from the consequences of technological advancement.4 This creates a tense intergenerational division in contemporary education and further problematizes the work of educational leaders.
Consequences in Society: History, Risk, and Redeftning Progress

As unique as the Digital Revolution seems, scholars Davidson and Goldberg argue that society has faced similar conditions before. Humanity has seen three separate Information Ages: the invention of writing, the shift from scroll to codex, and the invention of the printing press.5 As in earlier information ages, several bygone fears (e.g., subservience to new technological tools) are beginning to reappear in discussions about technology, which is often portrayed as “threatening” education.

The philosophy of fear surrounding the Internet and digital technologies has made educational reform increasingly difficult. Collins and Halverson assert that a “revolution in education will not just alter the lives of students, but the entirety of modern society.”6 Furthermore, parents are becoming increasingly concerned that constant access to digital media through technology (estimated at over eight hours per day) is leaving their children overexposed and under protected.7 Though I believe this pessimistic view is sometimes warranted, it serves to minimize the innovative potential of digital learning. How can teachers and administrators reap the benefits of the Internet in their personal life (e.g., Email communication), but ignore the opportunities for student learning? It seems as though a cognitive dissonance has formed, in which teachers feel conflicted about the assumed risks of using technology in the classroom (e.g., exposure to inappropriate content). While Anna Craft stresses, “This risk discourse exploits the fear of parents and educators,”8 Svendsen argues that the portrayal of technology as ‘risky’ simply stems from our inability to gain an absolute overview of its consequences.9

Collins’ and Halverson’s work largely ignores the historical significance of phenomena as they relate to technology and the human response. These historical phenomena allow us to reflect on our fears surrounding new technologies and understand that our concerns are hardly new. Historian Sidney Pollard proposes that  Western culture is still enamored with the Victorian phenomena of technological “progress”  (and its other variations over the last 300 years) and it continues to have a strong global impact. He defines progress as “the assumption that a pattern of change exists in the history of mankind…that it consists of irreversible changes in one direction only, and that this direction is towards improvement.”10 Despite the fact that today’s classrooms can house laptops and digital projectors, schools still exist in forms remarkably similar  to those of medieval times.11 This is not true progress. I believe that technology expert Dr.  Mark Bronson’s description of  technophobia – how and why people become afraid  of technology – outlines how the philosophy of fear is stifling innovation. He asserts, “Education, work and leisure are all becoming dependent on being able to interact with technology.”12 With student  engagement  plummeting  and  schools  adapting  to the complex demands of  their learners so slowly,  Bronson advocates for technology    in schools. It is needed to enhance traditional teaching, but instead we’re letting fear steer us into blindly replacing the role of  teachers.13 At a time when virtual, home,   and workplace learning are all gaining popularity,14 traditional education needs to evolve in order to remain a viable learning environment for students.
Consequences in the Classroom: Authority, Safety, and Redeftning Work

The philosophy of fear surrounding technology has distinct implications  for student learning and classroom practices. While the current education system relies on the hierarchical relationship between “teacher” and “student,” computers have begun to allow children to question the authority of adults.15 With education reformers drawing attention to the coercive nature of traditional education and its undesirable presence in 21st century schooling,16 I believe it is important that more organic relations between teachers and students are fostered. These can be supported through technology (e.g., flipped classrooms). Using Svendsen’s logic, a failure to adapt would mean fear is infringing upon our freedom.17 It is conceivable that just because we fear something does not necessarily mean we ought to fear it. Svendsen writes, “We ought to fear fear because it undermines so much of what is really important in our lives.”18 With teachers needing to be confident role models for their students, success in the classroom now relies on educators becoming aware of this tension and making strides to address/overcome it.

When children are the focus of your organization, safety is always a primary concern. With threats against them shifting from physical to virtual, the protection of children is necessary for online learning to occur. However, Anna Craft argues that the “childhood at risk” narrative that persists when describing young people’s uses of technology often overshadows the “childhood empowered” narrative.19 Furthermore, the angst that children who have access to technology will use it in ‘unsafe’ ways has existed for centuries. Despite this, school leaders have relegated the use, access, and enjoyment of technology primarily to the environment outside school, which might provide less, not more, protection for their students. Institutionally limiting students’ opportunities to learn is both ineffective in protecting children and has presented numerous drawbacks: deters students from preparing themselves for work, undervalues creativity, stifles the formation of identity, etc.20
The philosophy of  fear also impacts education in that it limits the changes to the nature of the work and responsibilities of teachers.21 I believe a philosophy of  fear leads to an aversion to change among educators. Though the constraints teachers face are hardly minute (e.g., large class sizes), their aversion can at times be puzzling, especially when it undervalues the needs of students. With education largely governed  by tradition and well-established teaching practices, researcher James Boyle asserts this attitude is a “cognitive bias” people need to overcome in order to embrace an open system.22 Perhaps it is time that conventional education allows technology to redefine their work to stay  relevant.

 Conquering Our Fears

Though fear is a common element of human nature, Svendsen argues that the philosophy of fear typically emerges at a stage when we are living in relatively secure times.23 Overcoming this fear may prove to be difficult; emotions are powerful forces. However, in such a meaningful institution like education, we need to inspire hope of innovation and exploration. Philosopher Ernst Bloch writes, “Hope is superior to fear because it is neither passive nor caught up in nothingness. The effect of hope broadens people rather than restricts them.”24 In a sphere that prides itself on research, our schools and their leaders need to be receptive to the growing digital movement. Failing to acknowledge our triumphs over fear in eras past will only hinder our students of the future.

Biography
Jason Ribeiro is a Master of Education candidate in the Faculty of Graduate Studies at Brock University. Jason Ribeiro is a Ph.D. student in the Werklund School of Education's Leadership program at the University of Calgary.

He recently completed his M.Ed. thesis which explored the educational technology procurement process in Ontario's publicly funded school districts.

His research aims to understand how school leaders in Ontario make decisions regarding educational technology acquisition.
Correspondence regarding this article may be addressed to   ribeirja@gmail.com

1   Allan Collins and Richard Halverson. Rethinking Education in the Age of  Technology: The Digital Revolution and Schooling in America (New York: Teachers College Press, 2009), 35.
2 Lars Svendsen, A Philosophy of  Fear (London: Reaktion Books Ltd, 2007),  46.
3 Cathy N. Davidson and David T. Goldberg. The Future of Learning Institutions in a Digital Age (Cambridge: The MIT Press, 2009), 13.
4   Svendsen, Philosophy of Fear, 76.
5  Davidson and Goldberg, Future, 19.
6 Collins and Halverson, Rethinking, 6.
7 Anna Craft, “Childhood in a Digital Age: Creative Challenges for Educational Futures,” London Review of  Education 10(2): 177-78, accessed April 26, 2014.
8   Craft, Childhood, 182.
9   Svendsen, Philosophy of  Fear, 49.
10 Wright, Ronald. A Short History of Progress (Toronto: House of Anasi Press Inc., 2004), 3.
11 Davidson and Goldberg, Future, 4.
12 Mark J. Brosnan. Technophobia: The Psychological Impact of Information Technology (New York: Routledge, 1998), i.
13   Brosnan, Technophobia, 128.
14   Collins and Halverson, Rethinking, Chap. 3
15   Collins and Halverson, Rethinking, Chap. 3.
16 Renita Schmidt and Paul Lee Thomas, 21st Century Literacy: If We Are Scripted, Are We Literate? (Greenville: Springer, 2008) 184.
17  Svendsen, Philosophy of Fear, 7.
18  Svendsen, Philosophy of  Fear, 125.
19   Craft, “Childhood in a Digital Age,” 176.
20   Craft, “Childhood in a Digital Age,” 176-77.
21 John Seely Brown and Paul Duguid, The Social Life of Information (Harvard Business School Press: New York, 2000) xv.
22 Davidson and Goldberg, Future, 23.
23  Svendsen, Philosophy of Fear, 7.
24   Ernst Bloch, Das Prinzip Hoffnung, vol. I (Frankfurt am Main, 1985), 1.
---
Nguồn: Teacher Technology adopTion and The philosophy of fear, journals.lib.unb.ca, 2014


Thứ Ba, 23 tháng 5, 2017

loại giáo viên bỉ ổi

Học sinh không biết làm cái nọ cái kia âu cũng là chuyện bình thường. Học sinh chưa ngoan, đạo đức chưa tốt, mình còn sửa kịp. Bởi thế mới sinh ra giáo viên. Đó là toàn bộ công việc của người đi dạy: giúp đỡ cho những người không biết.

Loại giáo viên đưa lỗi lầm của học sinh lên Facebook than thở cho thiên hạ xem, thiên hạ than thở giùm, thật bỉ ổi không còn gì để nói.

Thứ Hai, 22 tháng 5, 2017

stay lofty. stay autonomous.

trưa nay mình đi ăn, đang ngồi nhìn xuống sách thì thấy có người lại lay mình.

người đó mặc đầm trắng, cúi thấp xuống, tươi cười chào và hỏi thăm mình.
người đi cùng họ cũng cười, nói mấy câu vui vẻ, hỏi thăm mình.
rồi tiếp sau đó là vài ba người nữa. ai cũng cười. ai cũng nồng nhiệt, vui vẻ, thân thiện, tỏ vẻ lịch sự.

thì đó cũng chỉ là sự xã giao thông thường, không có gì thật, không có gì giả. thông thường.

nhưng gặp lại hai người mình từng yêu mến, mình thấy thật sự rất nhớ. không phải là ghét, không phải là yêu. là nhớ.

một năm đã trôi qua, một năm ai cũng bận bịu, rồi còn vì nhiều lý do khác nữa mà biếng lười hỏi thăm nhau. có khi lại có những giận dỗi không chừng. nên nói là thương nhau thật lòng, chắc không phải.

nhưng nhớ nhau thì có.

mình từ chối hòa vào nhóm người mới tới, ngồi một mình tại chỗ đang ngồi.
tay cầm cuốn sách mà tim không ngừng đập. nhiều lúc cứ ngỡ mình đã lớn lên, gan lì lên, nhưng thật ra mình vẫn là cái đứa dễ xúc động, cư xử thiệt thà ngô nghê, không giấu được điều gì như vậy.

rồi bất giác nước mắt ứ đầy trong hai mắt. mình vẫn luôn dễ khóc. càng lớn thì càng hay khóc, chứ không ít đi như thường thấy. mình cảm thấy rất nhớ mọi người, muốn chạy lại nói đôi ba câu. nhưng nói gì. nói gì đây về một năm qua với bao điều đã khô héo?

rồi mình thử kiếm trong balo xem có thứ gì không, mình lúc nào cũng có một cái gì đó trong balo để cho ai đó. à, lúc này mình có một cục xà bông than tre mùi quế. hay là chạy lại, dúi vào tay cô, bảo là cho em bé ở nhà. nhưng để làm gì? để tỏ ra lòng yêu mến vẫn còn nguyên đó?

không, không còn một cái gì là nguyên vẹn. vả lại cũng cần phải cư xử cho thống nhất.
những người đã từng ngồi cùng một toa tàu mà đi chung nhau một đoạn đường, khi người nào đã xuống ga, con đường của họ mãi mãi không thể còn giống như những người còn lại. có khi đã trở nên khác biệt hoàn toàn.

mình không chắc là mình đã mất họ. nhưng có lẽ họ đã mất mình.

mình mãi mãi không còn ở trong tập thể đó. mình mãi mãi không còn một tập thể nào. không còn cần một đoàn thể nào bao dung. mình đã đi một mình rất lâu, rất cực khổ, nhưng muốn đi tiếp. mình mãi mãi là cô bé ngồi đọc sách một mình trong quán ăn đó.

stay lofty. stay autonomous.

Đưa ý kiến cá nhân khi làm việc chung

Gần đây có dịp cộng tác với đồng nghiệp trong một dự án, mình học được nhiều kinh nghiệm. Trong đó thay đổi đáng nói nhất là mình đã biết cá...