Thứ Năm, 7 tháng 7, 2011

Truyện cười "Quan sợ ai?"





1. Truyện cười là kết tinh trí tuệ và óc hài hước dân gian. Ra đời với ba chức năng chủ yếu: mua vui giải trí; phê phán giáo dục; đả kích,đấu tranh xã hội; truyện cười dân gian mang tiếng cười đa cung bậc, vừa có ý nghĩa nhận thức vừa có ý nghĩa lịch sử - xã hội. Trong kho tàng truyện cười dân gian Việt Nam, Quan sợ ai? là một câu chuyện khá quen thuộc, gói ghém được nhiều ý nghĩa phong phú sâu xa của tiếng cười nhân dân.
  Một hôm trời mưa, rỗi việc, quan bắt chuyện với anh lính hầu cho qua thì giờ. Đó là hoàn cảnh bắt đầu cuộc nói chuyện thú vị với nội dung “quan sợ ai?”. Anh lính hầu đã khéo léo dẫn quan đi theo dòng suy luận của mình: quan sợ vua, vua sợ trời, trời sợ mây,… Cứ thế, cuối cùng đáng sợ nhất chính là… dân: “Bẩm, chó mà cắn càn thì có ngày người ta vác gậy đánh chết ạ!”. Tác giả dân gian đã tạo ra một tình huống vui vẻ để gửi gắm tư tưởng chống phong kiến của nhân dân.
2. Mâu thuẫn gây cười nằm ở sự vô lí mà như có lí của chuỗi suy luận. Đây là mâu thuẫn hình thức – nội dung. Những nhầm lẫn tinh vi trong tư duy đã dẫn tới một kết luận bất ngờ: quan sợ dân, dù kết luận này tác giả truyện cười không kể rõ.
  Đáng ngạc nhiên là chính tên quan mũ cao áo dài cũng bị vướng vào vòng luẩn quẩn của những suy luận sai lầm. Quan là người đại diện cho dân, đứng đầu một vùng, vậy mà lại hết sức khờ khạo, dễ dàng bị những logic rắc rối đánh lừa. Càng đáng cười hơn khi một trí tuệ như vậy lại đi kèm với một bề ngoài tỏ ra rất hống hách, tự đắc: “hay đánh người, tưởng chừng như không ai to hơn mình nữa”. Đây là sự mâu thuẫn giữa bản chất – hiện tượng làm ta không kìm được tiếng cười mỉa mai.
  Thực chất, sự nhầm lẫn trong chuỗi suy luận kia chỉ là trò đùa đáo để mà anh lính hầu cố tình tạo ra để chơi khăm quan, từ đó giáng cho hắn một đòn đả kích thật đau, thật thâm hiểm.Thêm một cái đáng cười nữa là, dường như có một sự đổi ngôi giữa quan và dân: dân thì không những thông minh mà còn lém lỉnh, sắc sảo nữa, còn quan thì vô cùng ngờ nghệch. Anh lính tỏ ra khép nép (thủ thỉ nịnh quan, luôn bẩm dạ lễ phép) nhưng thực chất lại là người nắm thế chủ động, “dắt mũi” quan. Còn quan ra dáng oách lại từ từ lâm vào thế bị động lúc nào không hay, trở nên ngây thơ kì lạ, tin tất cả những gì lính của mình nói, lại còn tỏ ra tò mò, nghĩa là tự động đưa chân vào bẫy. Nhân dân đang từng bước thực hiện một bàn thắng ngoạn mục của trí tuệ mình.
3. Như thế, vang lên ở đây có ba loại tiếng cười:
  Thứ nhất là tiếng cười vui vẻ, hài hước xuất phát từ sự “đánh lừa” của hình thức lập luận mà anh lính hầu đưa ra.
  Thứ hai là tiếng cười châm biếm, đả kích tên quan ngốc, kém tư cách. Tiếng cười mang đậm ý nghĩa cách mạng.
  Thứ ba là tiếng cười thú vị, tán thưởng, đồng tình trước sự thông minh của anh lính, hay chính là của nhân dân lao động. Khi phân tích yếu tố gây cười của truyện cười, nhiều khi ta chỉ tập trung vào những mâu thuẫn trái tự nhiên mà quên mất rằng, nếu không có cái tinh khôn, láu lỉnh của nhân dân thể hiện qua một anh lính hầu (Quan sợ ai?), một chị vợ (Mất bò), một người thợ may (Hai kiểu áo),.. thì tiếng cười chưa chắc đã bật lên được.Ta đã buồn cười vì sự suy diễn phi logic, vì cái ngốc mâu thuẫn với vẻ đạo mạo của tên quan. Và tiếng cười càng giòn giã hơn khi ta hiểu được dụng ý sâu xa của anh lính khi cố tình giăng bẫy quan. Lúc này, tiếng cười của người nghe chẳng khác nào một tràng vỗ tay, đón chào sự đắc thắng của trí tuệ.
4. Truyện Quan sợ ai? mở đầu theo lối trực tiếp: “Ông quan nọ hống hách hay đánh người, tưởng chừng như không ai to hơn mình nữa”. Chi tiết này không chỉ có chức năng giới thiệu, mà chính nó tiềm chứa mâu thuẫn. Sự hống hách, tự đắc chắc chắn sẽ dẫn tên quan tới một bài học nhớ đời, một vố đau nào đó.
  Sau phần mở đầu rất ngắn gọn là diễn biến truyện. Hoàn cảnh câu chuyện được tái hiện trong một dòng, nhưng chừng ấy đủ tố cáo phần nào bản chất tên quan, bởi cái hình ảnh “quan rỗi việc bắt chuyện cho qua thì giờ” thật chẳng tương hợp chút nào với địa vị của hắn. Nhưng đây chính là cơ hội để anh lính hầu chơi quan một “vố” thật “đau”.
  Phần tiếp theo là toàn bộ cuộc hội thoại giữa quan và anh lính hầu. Anh lính chủ động hỏi trước với mục đích dẫn dụ quan vào trò đánh lừa của mình, nhưng lại tỏ ra rất khép nép. Anh “thủ thỉ hỏi, có vẻ nịnh”: “Bẩm, từ khi ra làm việc, quan có sợ ai không ạ?”
  Câu hỏi này đã chạm đúng bản chất tự cao tự đại của quan để hắn phải đưa ra một câu trả lời mà dường như anh lính hầu đã đoán trước được:
-         Ta làm quan chỉ sợ đấng minh quân mà thôi.
  Với một vẻ khiêm tốn, anh lính bắt đầu dẫn quan đi theo những suy luận của                 mình. Thái độ tên quan từ chỗ rất tự tin, dần dần trở nên miễn cưỡng đồng tình, rồi đi đến chỗ bị động, nhường hẳn lời cho anh hầu, và háo hức nghe những phân tích thú vị của anh ta. Còn anh lính càng lúc càng chủ động hơn. Anh đã tạo ra một trò đùa trí tuệ vô cùng độc đáo. Sự “đánh lừa” nhận thức của anh lính xuất phát từ việc lợi dụng các logic suy luận. Từ tính chất bắc cầu có vẻ là rất khoa học, đúng đắn, anh lính đã khiến tên quan cũng như tất cả người nghe dễ dàng rút ra kết luận: quan sợ dân. Kết luận này có thể khiến quan giật mình, còn người nghe thì hả hê. Nhưng tất cả đều bị trí thông minh của anh lính làm cho hiểu lầm trong tức thì. Nếu không tỉnh táo thì không thể nhận ra rằng, anh ta đã gán một trạng thái tâm lí của con người là “sợ” vào việc suy luận về sự vật một cách hết sức máy móc. Thoạt đầu còn có vẻ đúng: vua sợ trời. Trời không phải là một thế lực có thật nhưng dẫu sao cũng là đấng linh thiêng. Nhưng từ bao giờ chuyện người đã chuyển hẳn sang chuyện vật: trời sợ mây, mây sợ gió,… Thực tế thì dẫu mây che trời, gió thổi mây thì cũng không ai nói trời sợ mây và mây sợ gió cả. Nhưng vị quan nọ thì tin điều đó. Sự hợp lí và khoa học của suy luận bắc cầu không còn, nhưng nhân vật của chúng ta vẫn vô cùng hứng thú, càng lúc càng hỏi dồn dập. Anh lính hầu đã đi được tới đích của mình bằng câu trả lời cuối cùng như một đòn giáng:
-         Bẩm, chó mà cắn càn thì có ngày người ta vác gậy đánh chết ạ!
  Trong lời nói có giọng điệu suồng sã gai góc của nhân dân, ẩn chứa niềm căm phẫn pha lẫn chút hài hước, đáo để làm nên sắc thái sâu cay cho tiếng cười. Truyện kết thúc nhưng có lẽ ta chưa cười ngay mà còn phải ngẫm nghĩ. Anh lính hầu đã phải vòng vo từ chuyện người sang chuyện vật rồi lại quay về chuyện người, rút lại cũng chỉ để nói mối quan hệ quan - dân, trong đó nhân dân được đề cao với sức mạnh của “lệ làng”, không hề né sợ uy quyền. Tác giả dân gian đã dựng truyện thật công phu qua nhiều tình tiết, để khi tiếng cười khoái trá nhất vang lên ở kết truyện, thì đồng thời, những lớp ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm cũng mở ra.
5. Truyện Quan sợ ai? là tiếng cười vui và là tiếng cười đắc thắng. Nó chĩa mũi nhọn vào bọn quan lại phong kiến, vạch trần bản chất vừa ngu dốt vừa hống hách, lộng quyền của chúng. Truyện còn ngầm chứa niềm tự hào về trí tuệ và sức mạnh quần chúng, mang ý thức phản kháng và tinh thần dân chủ sâu sắc.
6. Đặc sắc về nghệ thuật của truyện Quan sợ ai? nằm ở kết cấu, tình huống gây cười, và thi pháp nhân vật.
Truyện hết sức ngắn gọn. mở đầu trực tiếp,diễn biến truyện được tối giản bằng cách lược đi mọi yếu tố tả và kể để chỉ còn lại đoạn hội thoại giữa hai nhân vật. Truyện diễn biến theo trình tự tăng cấp. Các câu hội thoại làm cho mâu thuẫn liên tục được đẩy căng cho đến điểm cao trào. Đó cũng là lúc câu chuyện kết thúc. Kết cấu “gói kín mở nhanh” ấy tạo tiếng cười bất ngờ sảng khoái.
Truyện chỉ có hai nhân vật, đối tượng của tiếng cười là tên quan. Đối tượng ấy đã cho thấy tinh thần phê phán dân chủ của nhân dân, tinh thần đó không khoan nhượng và né tránh bất kì loại người nào trong xã hội, dù là vua chúa hay dân thường. Bên cạnh nhân vật quan là nhân vật anh lính hầu. Đây không phải chỉ là nhân vật trung gian giúp mâu thuẫn gây cười bộc lộ mà chính là hình ảnh đại diện của nhân dân với trí tuệ và óc khôi hài phong phú, với tâm thế chủ động tấn công vào giai cấp thống trị. Cả tên quan và anh lính hầu đều là nhân vật phiếm chỉ. Kiểu nhân vật này làm tăng khả năng khái quát hiện thực và sức mạnh đấu tranh xã hội của truyện cười.
7. Truyện Quan sợ ai? nói riêng và truyện cười dân gian nói chung minh chứng rằng: tiếng cười không phải chỉ là phương tiện mua vui đơn thuần. Nói như nhà dân chủ cách mạng Nga Ghecxen: “Trong cái cười có một cái gì rất cách mạng”.Cũng bởi thế, tiếng cười được mệnh danh là “vũ khí của kẻ mạnh” trong cuộc chiến chống lại những gì phản dân chủ. Chừng nào xã hội còn chưa hết những điều nghịch lí, thì nhân dân sẽ còn sáng tác truyện cười, và sẽ còn cùng nhau cười mãi vào cái xấu để mà xua đuổi chúng đi.

Phạm Thị Ngọc Hà



A.   Bản kể:

Tiếng cười dân gian Việt Nam, Trương Chính – Phong Châu, NXB Khoa học xã hội, 1979.

B.   Tài liệu tham khảo:

- Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Cao Huy Đỉnh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974.
- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trung tâm giáo dục từ xa, Giáo trình Văn học dân gian, PGS.TS Phạm Thu Yến, PGS.TS Lê Trường Phát, PGS.TS Nguyễn Bích Hà.
- Văn học dân gian Việt Nam, tập Hai, Hoàng Tiến Tựu, Nhà xuất bản Giáo dục, 1990.
- Văn học dân gian - những công trình nghiên cứu, Bùi Mạnh Nhị chủ biên, NXB Giáo dục, TP HCM, 2003.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

10/8

1. Hôm nay mình phát hiện ra hai túi hành tăm mẹ gửi bị mốc đen sì do mình quên mang nó ra khỏi túi nilon, để nó nằm trong cái túi ẩm ướt, đ...